Lịch sử thời trang : Cuối thời kỳ trung cổ: Thế kỷ xiv

vulong

Thành Viên
Bối cảnh lịch sử
Khi các lãnh chúa Trung Cổ thành công trong việc tập trung quyền lực về tay chính phủ, thế lực của giới quý tộc và các hiệp sĩ bị suy yếu. Chế độ phong kiến bắt đầu suy tàn dần trước thế kỷ 14 bởi các lãnh chúa tìm ra nguồn thu nhập mới bằng cách đánh thuế các thành phố và thị trấn. Nguồn thu nhập tăng cho phép họ thuê lính đánh thuê, những người sẽ chiến đấu cho tới khi nào còn được trả tiền.
Những thay đổi trong tình hình chiến sự đã đẩy nhanh sự suy tàn của những hiệp sĩ mặc áo giáp sắt cỡi ngựa đen. Vào thế kỷ thứ 15, sự xuất hiện của thuốc súng và đại bác càng làm tăng thêm lợi thế của lính bộ binh so với các kỵ binh áo giáp. Thuốc súng và đại bác cũng khai tử sự an ninh của những lâu đài thời kỳ Trung Cổ.
Do các vị vua chúa ban hành luật và thiết lập kỷ cương cho vương quốc của mình, thương mại, kinh tế và công nghiệp từ thế kỷ 12 lại tiếp tục được hồi sinh. Khi chính phủ hoàng gia ngày càng lớn mạnh hơn, các thị trấn bắt đầu đánh mất sự độc lập của mình, các vua chúa phải bảo vệ các thành phố vì chúng là trung tâm kinh doanh, là nguồn thuế quan trọng nhất. Tầm quan trọng của các phường hội Trung Cổ bị suy yếu khi nền kinh tế trở nên tư bản hơn. Tuy nhiên tầng lớp thương nhân bắt đầu có sức ảnh hưởng to lớn vì họ trở thành các chủ ngân hàng.
Những người nông dân tự do dần dần thay thế cho các nông nô. Thay vì phải làm ruộng cho địa chủ họ sẽ trả tiền thuê đất. Phần lớn dân số lúc bấy giờ là nông dân tự do. Họ là những người làm ruộng, những người làm thuê, chủ cối xay bột, thợ làm bánh, người buôn bán gia súc và những người giúp việc trong gia đình. Trong thời chiến, họ là lính bộ binh của đức vua.
Nông dân tự do ngày càng cơ động. Những hoạt động kinh tế gia tăng ở thành thị đã lôi kéo những người từ thôn quê lên thành phố để tìm việc và tìm nguồn thu nhập cao hơn. Và kết quả tất yếu là dân số của các vùng nông thôn ngày càng suy giảm từ giữa thế kỷ 14, trong khi dân số tại các thành phố và thị trấn thì tiếp tục tăng cao.
Một lý do khác giải thích việc tăng dân số ở các vùng thành thị chính là sự di cư của những nông dân tự do từ nông thôn bởi nạn đói liên tục, hậu quả của việc mùa màng thất bát vào đầu thế kỷ 14. Những trận mưa bão lớn và thời tiết lạnh đã làm hư hại mùa màng, nguồn thức ăn chính của người và gia súc. Và kết quả là thảm họa đói kém.
Dân số cũng bị suy giảm bởi những đợt thiên tai khác, Cái Chết Đen (Black Death), một đại dịch tấn công Châu Âu vào năm 1347 và tiếp tục tái diễn vào thế kỷ 14 và 15. Cho tới cuối năm 1665, Luân Đôn bị tàn phá bởi trận dịch và 1/3 dân số bị giết chết. Những thành phố đông dân của Ý cũng chịu những tổn thất nặng nề. Hậu quả của việc suy giảm dân số là lực lượng lao động trở nên khan hiếm và công nhân từ những tầng lớp thấp có thể có cơ hội việc làm tốt hơn mà trước đó không hề có.
Cấu trúc xã hội Trung Cổ
Xã hội Trung Cổ thời kỳ cuối có thể chia ra làm 3 thành phần: Giai cấp quý tộc, giai cấp tư sản, và nông dân tự do. Tầng lớp tăng lữ được xếp vào một giai cấp riêng.
Giai cấp quý tộc
Cuộc sống của những người quý tộc là một vòng xoay không dứt của những thú vui chơi: Cưỡi ngựa và săn bắn, yến tiệc và buôn chuyện, âm nhạc và khiêu vũ – và tất nhiên không thể thiếu chiến tranh. Những cuộc chiến liên tục tại Pháp giữa người Pháp và người Anh đánh dấu thế kỷ 14 là Một Trăm Năm Chiến Tranh đến rồi đi liên tục từ 1337 đến 1453.
Các hình thức giải trí của những người quý tộc đã mang đến diện mạo của thời trang. Đàn ông và đàn bà thuộc tầng lớp quý tộc giàu có mặc những bộ trang phục bằng gấm hoa và bằng nhung viền lông thú. Cộng đồng người Burgundy nổi tiếng với những bộ váy xa hoa trong suốt thế kỷ 14 và 15. Một số bộ trang phục của công tước Phillip the Bold từ năm 1363 đến năm 1404 đã minh họa cho sự đắt đỏ của những loại trang phục theo kiểu người Burgundy này. Một trong những chiếc áo chẽn của ông được thêu hình 40 con cừu non và thiên nga bằng ngọc trai đỏ thắm. Những chú cừu có đeo một chiếc chuông vàng nhỏ trên cổ và những con thiên nga cũng đeo chuông ở mỏ. Những loại chất liệu mà người Burgundy dùng để may trang phục được nhập khẩu từ khắp các nước châu Âu như lụa từ Ý, len từ Flanders và nỉ từ Đức.
Mũ dành cho đàn ông và đàn bà cũng trở nên rất cầu kỳ. Gần cuối thế kỷ 14, phụ nữ Burgundy đội những chiếc nón cao quá mức, hình tháp chuông được gọi là hennin. Từ hennin có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp cổ có nghĩa là “gây phiền phức”, và tất nhiên chiếc nón nhọn và cao cả thước này vô cùng bất tiện. Luật hạn chế chi tiêu đã giới hạn
kích thước của những chiếc nón này. Những nàng công chúa đội nón dài khoảng một mét, trong khi những phụ nữ quý tộc được cho phép đội mũ dài khoảng nửa mét.
Hầu hết màu sắc và kiểu dáng của trang phục trong giai đoạn này không chỉ bắt chước trang phục hoàng gia với những màu sắc sặc sỡ và những chiếc nón kỳ khôi, mà còn từ những bộ trang phục của những gia đình quý tộc phụ thuộc và người hầu của họ. Vua, công tước và lãnh chúa phong kiến cũng tự tạo ra những kiểu áo choàng để mặc khi xuất hiện trước công chúng và trang phục cho đàn ông và đàn bà trong gia đình mình. Từ livery, một từ cổ của Pháp có nghĩa là “phân phát” được dùng để đặt cho một loại đồng phục đặc biệt của người hầu. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 14 và 15, livery cũng là loại trang phục chính thức trong cung điện và của đoàn cung nữ đứng bên cạnh nữ hoàng hoặc nữ công tước, những người này không phải là những người hầu mà là những người phụ nữ may mắn được sống và tham gia vào cuộc sống cung điện như là một phần trong đoàn tùy tùng của nữ hoàng.
Nhu cầu tạo ra những kiểu trang phục độc đáo đã dẫn đến việc may phối hợp các loại chất liệu có màu sắc khác nhau trong một chiếc áo. Những chiếc áo được trang trí theo cách này được gọi là mi-parti hay parti-colored. Những hiệu ứng của trang phục parti-colored được sử dụng trong cả trang phục đàn ông lẫn trang phục đàn bà.
Giai cấp tư sản
Những nhà kinh doanh là một phần của “giai cấp trung lưu”, họ không phải là các nhà quý tộc nhưng lại giàu có hơn giai cấp nông dân rất nhiều. Ngày càng có nhiều thương nhân là đàn ông có thu nhập cao, sống ở thành thị và có điều kiện để sống một cuộc sống tiện nghi trong những căn nhà có đồ nội thất thủ công tinh xảo, màn bằng linen và đồ sành sứ.
Vợ của các thương nhân này trông coi nhà cửa, nhưng không tự mình làm công việc nhà. Nếu những người vợ này sống đúng theo tiêu chuẩn hành xử của những người phụ nữ thuộc tầng lớp của mình, họ sẽ nhún nhường và chừng mực, và sẽ không ăn mặc quá lố. Một vài doanh nhân thể hiện sự giàu có của mình thông qua những chiếc áo xa hoa dành bản thân và cho vợ con mình.



Nông dân tự do
Đàn ông và đàn bà cùng nhau làm việc trên cánh đồng, trồng trọt, thu hoạch và xén lông cừu. Đàn bà chăm sóc con cái và chuẩn bị thức ăn thường ngày trong ngôi nhà 2 hoặc 3 phòng ngủ bên trong chứa những chiếc bàn rất tiện dụng, những chiếc ghế dài hay những chiếc ghế đẩu, rương, tủ chén, và giường.
Quần áo mặc hàng ngày cho những người nông dân thường bằng vải trơn và thoải mái, rất giống cách ăn mặc của đàn ông trong những thời kỳ trước: Những chiếc áo tunic may bằng vải tự dệt, thắt tại eo, mang vớ cho mùa đông, và mặc áo choàng. Những đôi guốc gỗ hoặc những đôi bốt to nặng và những chiếc nón giúp chống lại ánh nắng mặt trời hoặc những chiếc mũ trùm bảo vệ trước cái lạnh mùa đông chính là trang phục làm việc hàng ngày của họ. Vợ của những người nông dân này sẽ mặc những chiếc áo đầm dài với những chiếc áo lót ôm sát và những chiếc chân váy khá phồng.
Mặc dù đa số nông dân thường nghèo và sống theo kiểu “tay làm hàm nhai”, nhưng cũng có những người khấm khá và tương đối giàu có. Những người nghèo nhất chỉ có thể mặc những loại trang phục tồi tàn không được nhuộm hoặc nhuộm với những loại vật liệu sẵn có như thuốc nhuộm xanh, hoặc thuốc nhuộm từ cây tùng lam. Còn với những người giàu có hơn, trong những dịp lễ hội, trang phục của họ phản ánh đôi chút dòng thời trang của tầng lớp cao hơn.
TRANG PHỤC ĐÀN ÔNG THẾ KỶ XIV
Trong 40 năm đầu của thế kỷ 14, thời trang cho đàn ông tiếp tục giống như những thế kỷ trước. Cũng vẫn là những chiếc áo sơ-mi và những chiếc quần ngắn làm trang phục lót và áo cote mặc trong áo surcote. Vào khoảng năm 1340, thời trang
cho đàn ông thay đổi một cách đáng kể. Váy ngắn, thường là một phần trong trang phục của những người nông dân, lại trở thành thời trang cho đàn ông thuộc mọi tầng lớp. Có rất nhiều loại trang phục mới trở nên thông dụng, song song với việc cải biên những loại trang phục trước đó.
Quần áo
Trang phục pourpoint còn được gọi là doublet hay gipon được ưa chuộng. Những bộ trang phục bó sát không tay này với miếng độn thân trước xuất phát là trang phục quân đội. Vào khoảng năm 1340, đàn ông bắt đầu mặc những chiếc áo pourpoint có tay làm trang phục thường ngày, cùng với những đôi vớ dài. Được mặc bên ngoài chiếc áo sơ mi bên trong và được cắt may vừa vặn, chiếc áo pourpoint được cài dọc theo thân trước bằng ren hay những hàng nút khít. Những chiếc lò xo được khâu vào bên trong phần chân váy của chiếc áo pourpoint bên dưới eo, cho phép móc những chiếc vớ vào áo pourpoint thay vì móc vào những chiếc quần ngắn, loại quần lót được mặc dưới những chiếc vớ dài.
Những chiếc áo pourpoint thường có cổ tròn. Tay áo ôm vừa vặn và được cài nút dưới cổ tay. Vào khoảng năm 1350, áo pourpoint thường là áo mặc ngoài cùng và thường được thắt dây nịt. Những chiếc áo xuất hiện vào nửa sau của thế kỷ này ngày càng ngắn hơn, chỉ dài tới hông. Một vài áo có tay dài qua cổ tay, đến tận đốt ngón tay.
Vớ luôn bao phủ đôi chân. Vớ ngắn với đế da được mang thay cho giày. Vớ cắt ngắn với quai da dưới mu bàn chân được mang với giày hoặc bốt.
Khi được mặc bên ngoài áo pourpoint, áo surcote ôm sát cơ thể, vạt ngắn và có thể có tay hoặc không.
Những ảnh hưởng khác của trang phục quân đội trên trang phục dân dụng có thể kể đến việc mọi người chấp nhận những chiếc tay áo rời được ráp vào thân áo thay cho những chiếc tay liền của áo tunic.
Áo cote-hardie là một biến thể của chiếc áo surcote hay áo tunic bên ngoài. Tại Pháp, áo cote-hardie thường là những chiếc áo có tay được mặc khi ra phố, được các tầng lớp thấp sử dụng đầu tiên và sau đó trở nên thanh lịch hơn và thường được viền hoặc trang trí bằng lông thú. Những chiếc áo cote-hardie của người Anh thường được ôm sát tại eo, nơi có đính nút cài, sau đó chúng xòe ra như một chiếc váy để hở phía trước và thường là dài tới đầu gối. Tay áo phía trước dài tới khuỷu tay, trong khi lại kéo dài ở phía sau thành một chiếc lưỡi ngắn. Người Anh mặc áo cote-hardie với thắt lưng thấp, ngay hông. Còn những tầng lớp thấp hơn thì mặc rộng rãi hơn, không gài nút mà lại mặc áo tròng đầu.
Trong nửa cuối thế kỷ 14, những chiếc nút áo đã được kéo dài từ cổ cho đến lai áo, thay vì từ cổ tới eo. Những dải phía sau tay áo trở nên dài hơn và hẹp hơn. Chiều dài áo thì trở nên ngắn hơn. Các đường lai áo và các dải sau tay áo thường được trang trí bằng những đường dagging, là một dạng trang trí mà trong đó lai áo được cắt thành những mảng nhọn hoặc vuông.
Trang phục houppelande tiền thân là trang phục mặc nhà của đàn ông, được mặc ngoài chiếc áo pourpoint, loại trang phục này thường ôm sát qua vai, rồi rộng dần xuống dưới, được gấp hình ống hoặc xếp ly, và được giữ cố định bằng một sợi dây nịt. Loại trang phục này được cấu tạo bởi 4 miếng vải dài may lại với nhau ở hai bên mép, giữa thân trước và thân sau. Áo được mặc tròng đầu và đôi khi các đường may được để mở một khoảng ngắn tại phần dưới của áo để tạo thành đường xẻ. Những chiếc áo này thường ngắn tới bắp đùi hoặc dài hơn để mặc trong các dịp trọng đại. Những chiếc áo dài tới khoảng giữa đầu gối và mắt cá xuất hiện vào thế kỷ 15 và được gọi là houppelande a mi-jamb.
Tóc và trang sức cho tóc
Tóc được cắt ngắn vừa phải, khoảng dưới vành tai. Mặt luôn được cạo nhẵn nhụi.
Nửa đầu thế kỷ 14, có một số thay đổi trong thời trang mũ nỉ, nón bê rê hay những chiếc mũ trùm đầu có vành cùng với những chiếc đuôi mũ. Vào nửa sau của thế kỷ, thời trang mũ trở nên đa dạng và vui nhộn hơn.
Giày
Những người đàn ông ở tầng lớp thấp thường mang vớ dài đến gối hoặc dưới bắp chân. Những đôi vớ dài thường có màu sắc tương phản với bộ trang phục hoặc được phối nhiều màu sắc với mỗi bên chân một màu khác nhau.
Giày có thể bao phủ toàn bộ đôi chân hoặc ngắn hơn, thường có dây quấn quanh mắt cá. Mũi giày ngày càng dài hơn.
Giày poulaine hay crackowe, một loại giày mũi đặc biệt dài và nhọn, được sử dụng cho tới cuối thế kỷ. Mặc dù mũi của tất cả các loại giày trong giai đoạn này thường nhọn, nhưng chỉ những người quý tộc và những người giàu có mới mang được những loại thật dài và thật nhọn mà thôi. Giày crackowe là một trong số đó; nó thể hiện cá tính của một người đàn ông không phải làm việc tay chân nhiều trong cuộc sống.
Giày bốt cao từ mắt cá cho tới nửa bắp chân, hoặc dài tới bắp đùi để tiện cho việc cỡi ngựa, cả giày bốt rộng và ôm sát đều được sử dụng. Những người đàn ông thuộc tầng lớp lao động thường mang guốc khi đường phố bùn lầy do thời tiết.
Phụ kiện
Ngoài những loại dây nịt thường được mang kèm với cote-hardie, một vài loại dây nịt khác có treo dao găm hoặc túi tiền để tăng thêm giá trị. Mọi tầng lớp đều mang găng tay, và thường được bẻ gấu xuống.
TRANG PHỤC PHỤ NỮ THẾ KỶ XIV
Quần áo
Những thay đổi trong trang phục nửa đầu thế kỷ 14 hầu như chỉ giới hạn trong việc thay đổi bề rộng của những chiếc váy sao cho chúng ôm sát cơ thể hơn nữa ở phần thân trên và xòe rộng ra ở phần thân dưới.
Áo surcote được may không tay và được mặc ngoài chiếc váy. Những chiếc áo này được cắt theo đường cong của cơ thể. Từ nửa sau của thế kỷ những chiếc áo truyền thống của những người phụ nữ hoàng gia Pháp bắt đầu thịnh hành.
Áo đầm – ôm vừa vặn theo cơ thể và với tay áo dài, bó sát.
Áo surcote – không có đường sườn với cổ sâu, thấy rõ dây quai chạy ngang qua hai vai. Một mảnh yếm panen cứng có cạnh dưới tròn (thường được gọi là placard trong tiếng Anh) được kéo dài tới hông rồi nối với dải băng ôm vòng quanh hông nơi nối với phần chân váy.
Chân váy – rất dài và khi đi phải được nhấc lên.
Một dãy kim cài áo trang trí được cài dọc phía trước chiếc yếm.
Được ứng dụng sau năm 1387, những chiếc áo houppelande dành cho phụ nữ phát triển toàn diện vào thế kỷ thứ 15. Những chiếc áo cote-hardie của người Anh cho phụ nữ có đường cổ sâu và tay áo dài tới khủy.
Phụ nữ trong hoàng tộc mặc những chiếc áo măng tô trang trọng trong những nghi lễ trọng thể. Áo có thể để mở hoặc được gài bằng móc, và được mặc với chiếc áo đầm phù hợp. Áo choàng, áo khoác thường được mặc để giữ ấm. Những chiếc áo có viền lông thú được mặc trong mùa đông, mặc dù luật hạn chế chi tiêu thường quy định loại lông sử dụng để viền hoặc trang trí áo tùy theo địa vị xã hội của người mặc.
Tóc và trang sức cho tóc
Kiểu tóc và mũ thường rộng hơn là cao. Tóc của phụ nữ trưởng thành được giấu dưới mạng che hoặc được búi gọn bên trong lưới trùm tóc. Nếu để đầu trần, thì tóc phải được tết thành bím, hoặc cuộn xung quanh vành tai hoặc búi sao cho hài hòa với chiều dài của mặt.
Barbette và fillet được sử dụng trong suốt giai đoạn đầu của thế kỷ dần dần biến mất. Wimple tiếp tục được sử dụng nhưng dài hơn, nhưng cho tới cuối thế kỷ, chúng chỉ được dùng cho các góa phụ và những thành viên của giáo hội. Những chiếc fillet hẹp thường được đội bên ngoài lưới trùm tóc.
Mạng che mặt, thường được cố định bởi fillet hay chaplet, cũng không che kín như những thế kỷ trước. Fillet bằng kim loạI dùng cho những phụ nữ hoàng tộc biến thành những chiếc vương miện nhỏ và trở thành món trang sức không thể thiếu cho tất cả các loại mạng che mặt.
Với những chiếc áo surcote có yếm dành cho những dịp trang trọng, phụ nữ hoàng tộc cuộn tóc trong những chiếc lưới gắn trang sức phủ qua tai, vương miện hay fillet được đặt lên trên chiếc lưới này.
Mũ trùm đầu hay mũ rộng vành thường được dùng trong những lúc thời tiết xấu.
Giày
Vớ thường dài tới gối và được buộc cố định. Mặc dù giày ở phụ nữ cũng tương tự như các kiểu giày của đàn ông, nhưng mũi giày phụ nữ không bao giờ dài quá mức như vậy.
Găng tay
Phụ nữ thường đeo găng tay.
Trang sức
Những loại trang sức thường thấy bao gồm vòng cổ, vòng tay, bông tai, nhẫn, trâm cài áo, dây nịt có gắn nữ trang và những chiếc nút áo, móc gài cho áo măng tô.
Mỹ phẩm và làm đẹp
Cuối thế kỷ 13, sẽ là thời thượng khi có vầng trán cao, rộng và điều này có được bằng cách nhổ hết tóc mai trên trán. Chân mày cũng được nhổ gọn. Mặc dù không phổ biến lắm, nhưng việc nhuộm tóc, đặc biệt là nhuộm tóc vàng cũng nhu việc “vẽ mặt” cũng thỉnh thoảng được ghi chép lại.

Valentine Vu Anh Ho Nguyen
Fashion Lecturer
Raffles International College, HCMC​
 
Top