Lịch sử thời trang: Giai đoạn cuối thời kỳ trung cổ thế kỷ thứ 15

vulong

Thành Viên
CHẤT LIỆU VÀ THỢ MAY

Kỹ thuật sản xuất trang phục không trải qua nhiều thay đổi, mặc dù guồng se sợi dần dần thay thế búp sợi và con suốt trong việc quay tơ. Những nhà buôn trở thành những người môi giới cho công nhân dệt, họ bán cho thợ dệt sợi vải và mua lại những mảnh vải đã hoàn thiện, sau đó bán chúng cho thợ chuội và hồ, rồi lại mua lại. Những nhà buôn này tiếp tục gởi vải đi nhuộm rồi bán vải thành phẩm cho các đại lý, các đại lý lại đem vải đi bán tại một trong những hội chợ thời Trung Cổ.

Những người thợ may phải trải qua một thời kỳ học việc dài và nghiêm ngặt để trở thành những người thợ có tay nghề cao. Thợ may thiết kế trang phục, thợ may đồ lót chuyên nghiệp sẽ tạo ra khăn trùm đầu và mạng che mặt, thợ giày thì sản xuất những đôi bốt và giày. Chất liệu được buôn bán khắp châu Âu và được nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ và Palestine. Lông thú được dùng để trang trí và để làm lớp lót.


NGUỒN TƯ LIỆU TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU TRANG PHỤC


Nghệ thuật

Những tác phẩm nghệ thuật La Mã và mang tính tôn giáo như kinh thánh và sách cầu nguyện được viết tay và được minh họa với màu sắc sặc sỡ. Những bức tiểu họa thì mô tả cảnh vật từ những câu chuyện hư cấu, từ kinh thánh hoặc từ lịch sử nhà thờ liên quan đến cuộc sống hàng ngày trong thời kỳ Trung Cổ.

Điêu khắc đá trên mặt tiền của nhà thờ Thiên Chúa Giáo theo kiến trúc Gô-Tích, lăng mộ của những người giàu có cũng như những người có dòng dõi cao quý và các tượng gỗ sơn màu đặt trong các nhà thờ cũng cho thấy hình dáng ba chiều của trang phục.

Tư liệu

Tại Pháp và Anh, người ta kiểm tra hàng năm danh mục các trang phục thời Trung Cổ được các gia đình hoàng tộc bán hoặc tặng và những bộ trang phục này không chỉ mô tả chất liệu làm nên quần áo mà còn cung cấp giá của chúng nữa.
Một số lượng lớn các tác phẩm văn học còn sót lại từ thế kỷ 14 và 15 thỉnh thoảng cũng là nguồn tư liệu trong việc nghiên cứu trang phục và có thể cung cấp những thông tin giá trị, đặc biệt là những phong tục tập quán có liên quan tới trang phục.

THAY ĐỔI TRONG THỜI TRANG TRỞ NÊN RÕ RÀNG

Có rất nhiều nhà lịch sử trang phục cho rằng thế kỷ 14 và 15 là điểm mốc khi mà những thay đổi trong thời trang bắt đầu xuất hiện. Vào cuối thế kỷ 15, người ta nhận thấy rất rõ rằng những thay đổi thường xuyên trong phong cách “thời thượng” đã bắt đầu xuất hiện và những người lắm tiền sẽ ăn mặc theo mốt hiện hành. Những chi tiết nhỏ thì thay đổi liên tục còn những thay đổi lớn trong hình khối thì chỉ xảy ra khoảng 50 năm một lần.

TRANG PHỤC CHO ĐÀN ÔNG VÀ ĐÀN BÀ: THẾ KỶ 15

Phong cách thời trang của thế kỷ 15 được mô phỏng theo trang phục của người Bắc Âu đặc biệt là Pháp và Anh. Có nhiều khác biệt tồn tại giữa những phong cách thời trang của Anh và Pháp. Những khác biệt này có nguyên nhân không chỉ là việc tại Anh, người ta sử dụng ít vật liệu đắt tiền hơn tại Pháp, mà còn là sự khác biệt trong tổ chức xã hội giữa hai đất nước này. Các cung điện Pháp và những cung điện của người Burgundy gần đó là sân khấu để phô diễn trang phục chứ không như nước Anh.

Nước Anh hầu như có rất ít trang phục cao cấp, và cuộc sống của những người thuộc giai cấp thượng lưu thường tập trung ở trong các tòa lâu đài nơi thôn quê hơn là tại các tòa nhà ở Windsor hay Westminster. Thời trang thường không lộng lẫy và chậm thay đổi hơn.

Trang phục cho đàn ông thế kỷ 15 – Quần áo

Áo doublet (áo chẽn có tay hoặc không tay) được dùng làm lớp áo bên trong sau thập kỷ đầu tiên của thế kỷ và được mặc ngoài chiếc áo sơ mi bên trong và mặc dưới chiếc áo jacket. Áo chẽn thường ngắn, hiếm khi dài tới đùi và trong vài trường hợp chỉ dài qua eo một chút. Tay áo rời bắt đầu xuất hiện vào gần cuối thế kỷ 15.

Hose, những đôi tất dài để che phần dưới cơ thể được khoe ra phần lớn chiều dài của chúng. Chúng được cấu
tạo theo một dáng vẻ mới, tương tự như những đôi vớ bó hiện đại. Ngay giữa đũng quần là một túi vải nhỏ được gọi là codpiece, được may để tạo không gian cho bộ phận sinh dục nam. Chiếc túi này được chặt vào tất bằng dây. Còn tất thì được cột chặt vào chiếc áo chẽn bằng một dãy các lỗ khuyên nhỏ xung quanh vạt dưới của áo chẽn và mép trên của đôi vớ.

Khoảng đầu thế kỷ 15, những chiếc áo choàng houppelande tiếp tục là loại trang phục quan trọng đối với đàn ông. Sau nửa thế kỷ, chúng được gọi là áo choàng dài tại Anh. Houppelande được may vừa vặn ở phần vai, và phồng to ra từ đó trở xuống. Từ năm 1410 cho đến năm 1440, độ phồng được sắp xếp xung quanh cơ thể qua số lượng những nếp xếp pli bằng nhau tại thân trước, thân sau và hai bên hông. Sau năm 1440, các dãy xếp pli được tập trung tại thân trước và thân sau; hai bên hông giữ phẳng.

Tay áo hoặc để mở hoặc đóng lại tại cổ tay. Kiểu tay áo mở bao gồm những loại tay áo hình phễu và hình trụ thẳng, thường được lót bằng màu nổi bật và dài tới cổ tay. Những loại tay áo kín bao gồm tay áo kiểu “kèn túi” rộng từ trên vai tạo thành một chiếc túi đầy, phồng to rồi hẹp dần và đóng lại tại cổ tay. Sau năm 1445, đỉnh tay áo được làm cho cao thêm bằng cách may thêm những chiếc pli nhỏ. Tay áo trở nên hẹp đi, ôm dần tới cổ tay và những chiếc áo có tay áo treo có thể có eo rộng hoặc ôm sát. Người mặc có thể để tay thò ra ngoài qua phần xẻ ngay dưới khuỷu tay. Phần còn lại của chiếc tay áo được treo lòng thòng dưới cánh tay.

Trong suốt thời kỳ đầu của thế kỷ 15, chiếc áo cote-hardie được dần dần thay thế bằng những chiếc áo houppelande ngắn hơn hoặc bằng một biến thể khác được gọi là áo jacket. Thời gian đầu của thế kỷ, tại Anh, từ jacket và cote-hardie cũng được sử dụng thay thế cho nhau, sau năm 1950, từ “cote-hardie” không được sử dụng nữa.

Chiếc áo jacket thế kỷ thứ 15 cũng có chức năng tương tự như áo jacket ngày nay, mặc dù chúng được mặc với tất chứ không phải với quần tây. Áo jacket là chiếc áo được mặc ngoài cùng, nếu không tính đến áo choàng. Độ dài thường thấy nhất của áo jacket là tới hông. Cũng có những chiếc áo jacket khác dài ngang đùi.

Áo jacket có những đường pli dọc ở thân trước và thân sau, và vai có miếng độn để tạo độ rông và đầy cho đỉnh tay áo. Áo jacket thường không có cổ áo mà có cổ tròn hoặc cổ chữ V ở thân trước hoặc thân sau, hoặc được cắt hình chữ V sâu tới hông và buộc dây tại đó.

Tay áo jacket rất đa dạng. Trong số đó có loại tay áo hẹp dần từ vai xuống tới cổ tay, hay tay áo rộng với băng cổ tay nhỏ, tay áo hình ống xắn cao, và tay áo treo. Cho tới cuối thế kỷ, những đường xẻ là một phần của tay áo jacket, để có thể trông thấy tay áo của những chiếc áo bên trong như áo chẽn và áo sơ mi.

Mặc dù trông giống như những chiếc áo houppelande, áo jacket được cấu trúc rất khác. Áo jacket có đường may tại eo để nối phần trên và phần dưới của áo lại với nhau. Phần dưới của chiếc áo jacket xòe rộng ra từ phần hông.

Áo choàng hay áo khoác rộng với mũ trùm đầu được xem là trang phục chính cho người lao động. Áo huke là chiếc áo dành cho những người đàn ông thuộc tầng lớp thượng lưu. Cũng giống như áo cote và áo surcote, áo huke bắt nguồn từ áo giáp. Nó có hình dạng như chiếc áo giáp của các hiệp sĩ, đóng ở cổ và mở ở bên hông. Áo huke ngắn thì có đường xẻ ở giữa để dễ dàng cho việc cỡi ngựa. Mặc không hoặc mặc với dây nịt, hoặc với dây nịt ngang phần thân trước trong khi phần thân sau để tự nhiên, áo huke ở nửa đầu thế kỷ hợp thời trang hơn nửa sau thế kỷ.

Tóc và trang sức cho tóc

Tóc được để theo phong cách mà theo như mô tả của các nhà lịch sử trang phục là tóc bowl crop (ụp cái tô), bởi vì mái tóc có hình dạng giống như chụp chiếc tô lên xung quanh đỉnh đầu. Phần tóc phía dưới cổ được cạo sạch. Sau nửa thế kỷ, khoảng năm 1465, kiểu tóc này được thay bằng kiểu tóc dài hơn tương tự như mái tóc page boy ngày nay. Khuôn mặt vẫn được cạo nhẵn nhụi.

Mũ ni dần dần biến mất ngoại trừ trang phục của các thầy tu và thầy thuốc. Mũ trùm đầu có vành trở nên lỗi thời, ngoại trừ ở nông thôn, mặc dù có một số lượng lớn mũ ngày nay có nguồn gốc từ những chiếc mũ trùm đầu kín tới tai này.

Giày

Những người đàn ông thuộc tầng lớp thấp thường mang những đôi vớ dài tới nửa bắp chân hoặc tới đầu gối. Những đôi tất chân được ưa chuộng hơn là những đôi tất dài. Những đôi tất nối có mặt đế bên trong làm bằng da được mang cả bên ngoài lẫn bên trong nhà, thường được nhuộm với màu sáng, có một số đôi còn được may bằng nhiều màu khác nhau.

Giày ở thời kỳ này có mũi nhọn, một số đôi thậm chí nhọn hoắc, chiều dài thì thay đổi liên tục trong suốt thế kỷ. Giày thường có thắt dây hoặc cài khóa ở hai bên để ôm sát đôi chân hơn nữa. Đế giày được làm bằng gỗ buộc vào xung quanh giày bằng một sợi dây để bảo vệ đôi giày trong thời tiết xấu.
Giày bốt thường ôm sát chân, và dài tới bắp chân, và được buộc bằng dây hoặc khóa gài. Những đôi bốt dài tới đùi có phần trên bẻ gập xuống thường được mang khi cỡi ngựa trong nửa đầu thế kỷ trở nên thời trang dành cho người đi bộ nói chung trong nửa thế kỷ sau.

Phụ kiện

Phụ kiện bao gồm cổ áo có gắn trang sức, dao găm, ví tiền, găng tay và dây nịt trang trí. Trong nửa đầu thế kỷ thứ 15, thắt lưng cho đàn ông là một trong những tài sản quan trọng nhất, và giựt chiếc thắt lưng của một người đàn ông chính là một hành động sỉ nhục. Vào nửa sau của thế kỷ, thắt lưng dần trở nên ít quan trọng hơn.

Trang phục cho phụ nữ thế kỷ 15 – Quần áo

Trang phục lót trong cùng của phụ nữ được gọi là smock hoặc shift trong tiếng Anh, và chemise trong tiếng Pháp.
Áo houppelandes cho phụ nữ thường dài, thắt nịt chặt ở trên đường eo tự nhiên, và có đường vai mềm mại tự nhiên, còn lại thì tương tự như cách cắt may của những chiếc áo cho đàn ông. Cổ của những chiếc áo này gồm cổ đứng cao, thường để mở ở phần trước để tạo thành hai chiếc cánh, hoặc cổ bằng, cổ bẻ gập xung quanh đường cổ hay hình chữ V. Tay áo thì gồm có tay áo hình phễu rộng, được lót với màu nổi hoặc bằng lông thú; tay áo dài chạm đất, tay áo túi kèn; tay áo hình ống lật lên để lộ những mảng tay áo với màu đối nghịch, hoặc tay áo treo, tay áo hình ống thường phổ biến nhất.
Áo đầm dài thường được mặt với những chiếc áo sur-cote hở hai bên sườn. Tại Anh, nơi mà thời trang ít hở hang hơn tại Pháp, phụ nữ thường mặc những chiếc áo cote-hardies với những chiếc khăn choàng khoác hờ, trong khi phụ nữ thượng lưu tại Pháp lại thích những chiếc đầm dài cổ trễ, ôm sát, làm nổi bật bộ ngực và phần chân váy dài phủ kín chân. Tay áo đầm có thể ôm vừa vặn từ vai cho tới cổ tay hoặc là tay áo treo rộng, dài và hình phễu.
Nhiều kiểu áo đầm xuất hiện từ nửa sau của thế kỷ. Những chiếc pli xếp cứng, hình ống biến mất khỏi áo đầm phụ nữ, và được thay thế bằng những nếp dún xòe phồng. Thân áo trên có cổ sâu hơn, có khi xuống tới eo. Viền cổ chữ V được lật lên tạo thành ve áo, và thường được lót với màu nổi bật hoặc lông thú. Phần chân váy thường rất dài, có khi dài tới nỗi phải nhấc lên khi bước đi.

Ban đầu, những phong cách này có phần thân áo mềm mại với những nếp dún của váy được tạo thành bằng cách thắt dây nịt. Rồi dần dần, các đường cắt cúp trở nên chuyên nghiệp hơn và phần thân áo trở nên ôm sát hơn.

Áo Roc là một loại áo đầm dài và rộng rãi. Loại áo này xuất hiện rất hiếm, dường như chúng thường chỉ có mặt trên những bức họa của người Flemish và người Đức. Áo có cổ tròn với nhiều nếp dún hoặc xếp ly đổ xuống tại ngay giữa thân trước và thân sau. Áo không có dây thắt lưng và được may bằng vải mềm. Chiếc áo được buông thả tự nhiên và rộng xuống chạm đất. Tay áo được may dài và ôm vừa vặn hoặc tay ngắn.

Áo choàng có mũ trùm đầu được mặc khi thời tiết xấu. Những chiếc áo măng tô để mở thường được mặc ngoài những chiếc áo đầm dài đồng bộ và được cài bằng móc xích ở thân trước, nhìn chung không có gì thay đổi.

Tóc và trang sức cho tóc

Các cô gái chưa chồng, các cô dâu và các nữ hoàng tại lễ đăng quang của mình thường để đầu trần và để lộ mái tóc. Tất cả những phụ nữ trưởng thành khác đều đội một thứ trang sức nào đó để che đậy mái tóc của mình. Vầng trán cao, rộng có được bằng cách nhổ tóc giờ đây trở nên rất thịnh hành, vì vậy, không có hoặc rất ít tóc mai được nhìn thấy bên ngoài những món trang sức che tóc, điều này được cho là hợp thời trang.

Ở nửa đầu thế kỷ, trang sức cho tóc thường trải rộng từ bên này qua bên kia đầu. Nếu chiếc nón không che hết mái tóc, tóc sẽ được cuộn lại trong một tấm lưới. Có rất nhiều dạng nón được sử dụng. Mạng che tóc thường bao phủ cả chiếc nón. Vào nửa sau của thế kỷ, những chiếc nón trở nên cao hơn. Kích thước của chúng rất đa dạng, từ nón ôm sát đầu, nón có chóp, nón không vành cao từ 10 – 13 cm sau này được gọi là hennin, một loại nón hình côn, chóp nhọn, cao đến gần một mét. Mạng che mặt, thường mỏng và nhẹ, được đính và phủ qua những chiếc nón.

Giày vớ

Vớ, dài tới đầu gối, được buộc chặt xung quanh ống chân, Giày thì ôm vừa bàn chân. Mặc dù mũo giày vẫn nhọn và dài, giày cho phụ nữ không dài và nhọn bằng những đôi giày của đàn ông. Những miếng đế gỗ cũng được mang khi thời tiết xấu.

Phụ kiện

Phụ kiện bao gồm nữ trang, găng tay, hầu bao đựng tiền, và đai thắt lưng. Với những chiếc áo có cổ thấp, vòng cổ là món trang sức rất quan trọng.

TRANG PHỤC CHO TRẺ EM: THẾ KỶ 14 VÀ 15

Trong suốt thời kỳ Trung Cổ, trẻ em, trừ thời gian còn ẵm ngửa, thường ăn mặc giống như người lớn. Những đứa trẻ sơ sinh thường được quấn tã, bọc trong những miếng vải lanh từ đầu đến chân. Người ta tin rằng quấn tã giúp trẻ em không bị dị dạng khi lớn lên.

Trong suốt 4 hay 5 năm đầu đời, cả trẻ gái và trẻ trai đều mặc những chiếc áo đầm rộng. Những đứa trẻ hoàng tộc sẽ mặc những bộ trang phục bằng vải đắt tiền, được trang trí công phu. Khi đứa bé đủ lớn để tham gia vào công việc hay những hoạt động khác của gia đình, chúng sẽ được ăn mặc giống như những người lớn thu nhỏ.

Những điểm khác biệt chính trong vẻ ngoài của con trai và con gái là ở mái tóc. Bé gái sẽ giấu mái tóc của mình cho đến khi lấy chồng.

TRANG PHỤC CHO CÁC NGÀNH NGHỂ ĐẶC BIỆT

Trang phục cho sinh viên

Trong suốt thế kỷ 15, sinh viên vẫn mặc những chiếc áo cote và surcote sau khi chúng bị mọi người từ bỏ không mặc trong những dịp bình thường. Một chiếc áo choàng dài biến thể đã vượt qua những năm tháng thăng trầm và vẫn là một trong những chiếc áo chính thức của các học viện, được các sinh viên mặc khi làm lễ tốt nghiệp.

Trang phục quân đội

Trong suốt thế kỷ 14 và 15, những chiếc áo giáp bằng dây xích, từng là những chiếc áo giáp đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh đã dần dần được thay thế bằng những chiếc áo giáp làm bằng những chiếc đĩa lớn và cứng. Bước đầu tiên của xu hướng này đến từ sự phát triển của những miếng kim loại cứng bảo vệ đôi chân, khuỷu tay và đầu gối. Sau đó là những chiếc áo giáp cứng cho thân mình. Đây là lần đầu tiên, vải hoặc da được kết hợp cùng với đĩa kim loại, chúng được gọi là những chiếc áo choàng đĩa.

Khoảng năm 1350, khi các hiệp sĩ mặc áo giáp vào, trước tiên họ phải mặc áo sơ mi ôm sát, rồi đến quần ngắn, rồi đến tất dài. Cánh tay và đôi chân họ sẽ được bảo vệ bởi các tấm kim loại. Sau đó họ mặc thêm những chiếc áo khoác ngoài có độn, được gọi là gambeson, và ngoài chiếc áo gambeson là một chiếc áo khoác giáp khác hoặc một chiếc áo giáp khoác ngắn hơn gọi là haubergeon. Tiếp đến là chiếc áo choàng đĩa, và sau cùng là áo surcote. Các hiệp sĩ thường đeo dây nịt và dây đựng kiếm. Khi chiến đấu, họ sẽ đội thêm nón giáp và một đôi găng tay kim loại hay bao tay sắt.

Từ thế kỷ 15, hình dạng của nón giáp trở nên tròn hơn. Chúng vẫn bao phủ toàn bộ khuôn mặt, nhưng thường có lưỡi trai, một dụng cụ bảo vệ khuôn mặt có thể mở ra được. Những miếng kim loại tại ngực và lưng được thiết kế đặc biệt để bảo vệ các vùng này, và đó cũng là một bước hợp lý để chiếc áo giáp trở thành một bộ trang phục hoàn hảo để bảo vệ tất cả các bộ phận của cơ thể. Chiếc áo giáp được mặc ngoài chiếc áo haubergeon cho đến nửa sau của thế kỷ 15, khi những chiếc áo khoác giáp được thay thế bằng những chiếc áo khoác của quân đội. Đó là một chiếc áo khoác có độn giáp tại những nơi không được bảo vệ bởi chiếc áo giáp.
Valentine Vu Anh Ho Nguyen
Fashion Lecturer
Raffles International College, HCMC​
 
Top