Lịch sư thời trang : Giai đoạn đầu thời kỳ trung cổ thế kỷ xiii

vulong

Thành Viên
Sản xuất vải


Một cuộc cách mạng lớn trong tổ chức các nhà sản xuất vải đã diễn ra. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, những người phụ nữ làm việc trong khuê phòng hoặc tại nhà là những người đã tạo ra hầu hết các loại chất liệu vải. Từ năm 1300, công việc dệt do đàn ông đảm trách còn phụ nữ chỉ chuẩn bị sợi và quay sợi. Nhuộm và hồ vải được đặc biệt làm bằng tay và được thực hiện ở bên ngoài ngôi nhà. Trong những nghiên cứu về công việc của phụ nữ trong giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, người ta cho rằng sự suy giảm số nô lệ và sự dịch chuyển dân số từ nông thôn ra các trung tâm thành thị là một trong những lý do của những thay đổi này. Kết quả là các xưởng làm việc của phụ nữ biến mất và việc sản xuất vải được chuyển về thực hiện tại các hộ gia đình. Đàn ông, những cựu nông dân trước đây phải tìm việc làm tại các trung tâm đô thị, và nhận lãnh những công việc mà trước đây phụ nữ đảm trách.


Những sự phát triển này cùng với những thay đổi trong khoa học kỹ thuật, sự ra đời của nhà máy chạy bằng hơi nước đã cung cấp năng lượng cho việc hồ áo len từ thế kỷ thứ 10. Cho đến thế kỷ thứ 12, khung cửi nằm ngang đã cho phép người dệt có thể ngồi chứ không phải đứng như khung cửi thẳng đứng trước đây nữa. Khung cửi nằm ngang có chân bàn đạp để di chuyển sợi dọc và có thêm vào một khoang, gọi là con thoi, để điều khiển sợi ngang.
Cho đến thế kỷ thứ 12, những người thợ thủ công châu Âu đã thành lập một số trung tâm sản xuất quần áo xuất khẩu. Những phường hội thương mại được thành lập đầu tiên vào thế kỷ thứ 11, không phải bởi những người thợ mà là những lái buôn, những người muốn ngăn chặn việc nhập khẩu các loại hàng hóa cạnh tranh. Từ thế kỷ thứ 12, những người thợ thủ công bắt đầu hình thành những phường hội của riêng mình. Chỉ cần học việc tại một phường hội nào đó, một chàng thanh niên trẻ có thể trở thành một thợ thủ công thực tập, các phường hội này có thể quy định số lượng nghệ nhân và đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng, mức giá, và quy định điều kiện làm việc.


Các phường hội kinh doanh vải vóc được phép thuê vợ và con gái để quay sợi và dệt. Những người vợ góa của các thành viên trong hội có thể thừa hưởng công việc kinh doanh của người chồng quá cố và trở thành thành viên của hội. Tuy nhiên, mức lương cho đàn bà lúc nào cũng thấp hơn của đàn ông.


Len là một loại sợi đặc biệt trong ngành kinh doanh vải sợi châu Âu. Len ở Anh được xem là loại len tốt nhất vào thời đó. Có rất nhiều len từ Anh được nhập khẩu vào Flanders, nơi mà những người thợ dệt lành nghề làm ra những tấm vải chất lượng cao. Những nhà kinh doanh vải không giới hạn số lượng quần áo len. Linen được sản xuất tại Châu Âu và được dùng để may các vật dụng trong nhà và quần áo. Sản xuất lụa, từ giữa những năm 1200, đã trở thành ngành công nghiệp chính của Italy, Sicily và Tây Ban Nha. Cotton, nguyên thủy là sản phẩm từ Ấn Độ, được người Ma Rốc giới thiệu tới Tây Ban Nha.

Trang phục cho đàn ông thế kỷ XIII


Trong suốt thế kỷ thứ 13, đàn ông thường mặc những bộ trang phục tiện dụng tương tự như những bộ trang phục được mô tả trên Mốt Trẻ các số trước đây; tuy nhiên, tên gọi của những bộ trang phục trong thời kỳ này lại có chút ít thay đổi. Nói tóm lại, một người đàn ông thường mặc những chiếc quần ống túm dài tới đầu gối hoặc ngắn hơn một tí và những chiếc áo sơ mi lót bằng vải linen. Mặc ngoài áo sơ mi lót là chiếc cote (áo tunic bên trong) và mặc chồng lên áo cote là chiếc áo surcote (áo tunic bên ngoài). Trong mùa lạnh hoặc để bảo vệ cơ thể khi ra ngoài, họ sẽ mặc thêm một chiếc áo khoác nữa, đại loại giống chiếc áo choàng có thể được cắt may ôm vừa vặn hay rộng một chút.


Sự giản dị trong trang phục dành cho quan lại càng được nhấn mạnh vào thời vua Louis IX. Louis, một người đàn ông vô cùng sùng đạo, là vị vua duy nhất của Pháp được phong Thánh bởi nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Trong suốt thời gian trị vì của ông, những chiếc áo lâm triều trở nên giản dị hơn và sự xa hoa không được khuyến khích.


Trang phục


Đàn ông thượng lưu thường mặc những chiếc áo cote dài, còn những người lao động thì mặc ngắn hơn. Có hai loại tay áo được mô tả phổ biến nhất. Một là những chiếc tay áo dài và ôm sát. Còn lại là loại tay áo được cắt rất phồng bên dưới cánh tay, hẹp dần rồi ôm sát ở cổ tay.


Trong mô tả về áo surcote (áo tunic mặc ngoài cùng) cũng cho thấy nhiều điểm nhau trong cắt cúp. Một số người mặc những chiếc áo không tay với đường cổ tròn hoặc ngang và nách áo rộng, thân áo được ráp ngay bên dưới nách áo rộng này. Những chiếc áo khác lại có tay áo dài tới khuỷu tay hoặc ¾ cánh tay hoặc một chiếc áo tay dài và phồng ở phía trên rồi hẹp dần về phía cổ tay. Những chiếc áo surcote dài thường có đường xẻ lên tới eo để cho người mặc có thể dễ dàng cỡi ngựa hoặc dễ dàng cử động. Thậm chí cả những chiếc surcote ngắn và những chiếc áo cote không mặc kèm surcote thỉnh thoảng cũng có đường xẻ như thế này tại thân trước.


Sự khác biệt giữa áo surcote và các loại áo choàng không tay cũng như áo măng tô rất mờ nhạt. Người ta không mặc áo surcote chồng lên những loại trang phục mặc ngoài kể trên. Thành phần chính của trang phục ra phố bao gồm áo choàng và áo măng tô để mở hoặc gài kín. Áo măng tô được mặc qua vai và cài ngang phần thân trước bằng một dải ruy băng là biểu tượng của tầng lớp thượng lưu.


Áo garnache là một loại áo choàng dài với cánh tay áo rộng. Thường được lót và viền cổ bằng lông, loại áo này được mở hai bên hông, dưới cánh tay.


Áo tabard nguyên thủy là một loại trang phục ngắn, rộng với tay ngắn hoặc không tay được các thầy tu và đàn ông ở tầng lớp thấp mặc. Trong một vài trường hợp, chúng được thắt tại vùng eo dưới cánh tay một chút bằng cách may gút hoặc bằng một sợi dây vải. Vào những thế kỷ sau, loại trang phục này trở thành một bộ phận trong trang phục quân đội hoặc trang phục của người hầu trong các gia đình quý tộc. Các họa tiết trang trí được sử dụng cho áo tabard sẽ cho biết chủ của người đang mặc chúng là ai.
Áo slit hoặc fitch, loại trang phục mà những cặp mắt hiện đại ngày nay cho là trông giống như những chiếc túi áo, được làm thành những chiếc áo mặc ra bên ngoài thùng thình để người mặc có thể cho cả tay vào trong áo khi trời lạnh hoặc để lấy ví tiền treo ở thắt lưng của chiếc áo bên trong.


Tóc và trang sức cho tóc
Độ dài của tóc vừa phải và tóc được rẽ ngôi giữa. Những thanh niên trẻ có mái tóc ngắn hơn những người già. Nếu có râu quai hàm thì chúng cũng rất ngắn. Rất nhiều đàn ông không để râu vì sự có mặt của những chiếc mũ bảo hiểm kín của quân đội che hoàn toàn khuôn mặt. Điều này rất bất tiện khi có râu.


Trang sức cho tóc quan trọng nhất là mũ ni và mũ trùm đầu. Mũ trùm đầu giờ đây không đi kèm với áo choàng nữa. Vào cuối thế kỷ 13, mũ trùm đầu càng ôm sát đầu hơn nữa và chúng thường được may với một ống vải dài treo lủng lẳng phía sau lưng. Người Pháp gọi chúng là cornette, và người Anh gọi là liripipe.​

Trang phục cho phụ nữ thế kỷ XIII


Ngoại trừ việc phụ nữ không mặc quần ngắn, còn thì những loại trang phục khác trong tủ quần áo của họ cũng giống như trang phục của đàn ông: Áo lót bên trong, áo cote, áo surcote, và áo mặc ra phố, áo măng tô hoặc áo choàng không tay.


Trang phục


Áo cote cũng có tay áo ôm và tay áo dài phủ cánh tay. Áo surcote cũng có tay hoặc không. Nếu có tay thì chỉ dài tới giữa khuỷu tay hoặc cổ tay và thường là rất rộng và tròn. Áo surcote không tay thường được cắt với nách tay rộng sao cho có thể nhìn thấy chiếc áo cote bên trong.


Những bộ trang phục rộng trùm kín người được cho là đứng đắn trong suốt thời đại của Thánh Louis được thay bằng những bộ trang phục vừa vặn hơn cho tới cuối thế kỷ thứ 13. Trong những tháng mùa hè ấm áp, một số phụ nữ mặc áo surcote bên ngoài áo sơ mi bên trong, nhưng điều này là rất mạo hiểm và bị coi là dấu hiệu của những hành vi đồi bại. Nhiều phụ nữ dùng ren quấn chiếc áo cote (áo tunic bên trong) thật chặt để làm nổi bật các đường cong của mình dưới nách tay áo rộng của chiếc áo surcote.


Những chiếc áo măng tô không cài nút của những người phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc thường mặc trong nhà cũng như khi ra phố. Áo choàng giống như những chiếc áo của thế kỷ thứ 11 và 12 vẫn tiếp tục được sử dụng, một số có kèm theo mũ trùm dành cho mùa đông lạnh giá.


Tóc và trang sức cho tóc


Những thiếu nữ trẻ tiếp tục để đầu trần trong khi những phụ nữ đã trưởng thành thì lại mang khăn trùm đầu. Bím tóc dài (như thế kỷ thứ 12) không còn nhìn thấy nữa. Mạng che mặt và lưới trùm tóc bao phủ toàn bộ mái tóc. Barbettes, fillets, và wimples vẫn tiếp tục tồn tại, mặc dù đôi lúc chúng bị trùm lên bởi lưới trùm tóc của mạng che mặt.


Giày
Không có thay đổi lớn nào trong phong cách giày so với những thế kỷ trước.
Phụ kiện cho đàn ông và đàn bà thế kỷ XIII


Phụ kiện rất đa dạng từ trang sức, bóp, ví đựng tiền, cho đến những loại vật dụng khác dùng để chứa những tài sản có giá trị, và găng tay.


Trong suốt thế kỷ thứ 13, chỉ có giới quý tộc và tăng lữ mang găng tay. Vua chúa đôi khi cũng mang những đôi găng tay có đính trang sức. Khoảng gần cuối thế kỷ 13, găng tay dường như được phổ biến hơn cho cả đàn ông lẫn đàn bà. Một số người đeo găng tay dài tới khuỷu tay, số khác mang găng dài tới cổ tay. Vài phụ nữ mang găng tay bằng linen để bảo vệ đôi tay khỏi rám nắng.
Bóp và túi hay ví được đeo tại thắt lưng (đôi khi được đeo cả trên vai), hoặc được đeo bên dưới chiếc áo ngoài cùng và thường được đeo ở khoảng để mở hay xẻ của áo.


Trang sức


ít xuất hiện trong tranh ảnh hay trong các bức tượng nhưng trang sức được mô tả nhiều trong văn chương. Hầu hết những món trang sức quan trọng là nhẫn, dây nịt, khóa cài để giữ dây ruy băng thắt ngang bụng trên áo măng tô, và ghim cài áo tròn – fermail hay affiche – được dùng để cài những chiếc áo tunic bên ngoài, những chiếc áo bliaut, hay surcote.


Mỹ phẩm


Sau cuộc Thập Tự Chinh, nước hoa và thuốc mỡ nhập khẩu từ Trung Đông được sử dụng phổ biến. Phụ nữ người Anh hoặc những phụ nữ quý tộc sử dụng sáp môi vào thế kỷ 12. Nếu chúng được nhập khẩu vào Anh để sử dụng, nơi mà giới quý tộc vẫn có mối liên hệ thân thiết với Pháp và những vùng thuộc địa của Anh tại châu lục này, người ta có thể chắc chắn rằng nó cũng được dùng tại những châu lục khác. Phụ nữ cũng dùng thuốc nhuộm tóc và kem thoa mặt.


Trang phục trong quân đội


Áo giáp có thể phân chia theo cấu tạo của chúng: (1) áo giáp mềm, được làm từ vải độn bông hoặc da, những chiếc áo giáp này có thể bị xuyên thủng bởi những vật nhọn; (2) loại thứ hai được làm từ những vòng kim loại được cài vào nhau, và (3) là những chiếc dĩa kim loại, những chiếc áo da thuộc cứng và những tấm xương cá voi, hoặc sừng trâu bò.


Vào giữa thế kỷ thứ 12, đàn ông bắt đầu mặc áo surcote bên ngoài áo giáp. Có thể thói quen này bắt nguồn từ suốt thời kỳ Thập Tự Chinh nhằm mục đích bảo vệ chiếc áo giáp khỏi nhiệt độ cao của mặt trời Địa Trung Hải, một thói quen bắt chước từ những chiến binh Hồi Giáo. Trong thời gian sau này, binh lính thường mặc áo surcote được gắn huy hiệu xác định họ thuộc lực lượng quan đội nào, đây là điều cần thiết khi mà toàn bộ khuôn mặt bị chiếc nón bảo hiểm che mất.


Vào thế kỷ thứ 12 và 13, áo giáp bao gồm luôn cả áo khoác giáp – lúc dài, lúc ngắn – vớ và giày giáp. Tay áo dài qua bàn tay tạo thành một loại găng tay giáp hở ngón. Toàn bộ bộ trang phục nặng khoảng 12-15kg và được mặc ngoài chiếc áo bông. Vào đầu thế kỷ thử 13, một loại nón bảo hiểm ôm sát bắt đầu xuất hiện. Chiếc nón này có thể so sánh với những chiếc nón của những người thợ hàn hiện tại, trừ việc nó kín ở phần sau, chỉ hở phần mắt và mũi để thở, giống như đội ngược một chiếc thùng to trùm kín đầu. Chiếc nón này được trùm lên một chiếc nón độn bông khác để bảo vệ đầu khỏi những góc cạnh của chiếc nón giáp, chiếc nón bảo hiểm này chỉ được đội trong khi đang chiến đấu bởi vì nó quá bất tiện trong việc đội hàng ngày. Trong suốt nửa sau của thế kỷ thứ 13, một chùm lông thú hay lông chim được thêm vào đỉnh của những chiếc nón bảo hiểm để mọi người có thể biết đây là một hiệp sĩ.
Valentine Vu Anh Ho Nguyen
Fashion Lecturer
Raffles Intetnational College, HCMC​
 
Top