Lịch sử thời trang : Lịch sử thời trang thế kỷ x - xi

vulong

Thành Viên
Đế Chế La Mã Phương Đông


Bối cảnh lịch sử


Thủ đô của Đế Chế La Mã là Constantinople, một thành phố Hy Lạp được Hoàng Đế La Mã là Constantine chọn lựa vào năm 330 để trở thành thủ đô của phần phía đông Đế Chế La Mã. Nằm tại cửa Biển Đen, thành phố này và những vùng đất lân cận nắm quyền chi phối cả thương mại đường thủy lẫn đường bộ giữa phía Tây và Trung Á, Nga, và Viễn Đông. Đồng thời, thành phố này cũng được dãy núi Balkan hiểm trở bảo vệ khỏi những thổ dân xâm lược, những người tràn qua Rome và bán đảo Ý.




Như là kết quả tất yếu, Constantinople đã trở thành thủ phủ của nền kinh tế Địa Trung Hải cho tới năm 1200. Nhưng ngoài việc đảm bảo sự tồn tại của thành phố, vị trí địa lý cũng mang lại không ít những thay đổi về tính chất cho thành phố này. Nằm tại giao điểm của Đông và Tây, thành phố này và đế chế mà nó làm thủ đô trở thành nơi hội tụ văn hóa và nghệ thuật Đông Tây phong phú. Về trang phục, người ta có thể thấy điều này phản ánh qua sự tiến hóa từ từ của phong cách La Mã với sự thêm thắt ngày càng tăng các yếu tố Đông Phương.


Trong suốt quá trình lịch sử, Đế Chế La Mã liên tục chìm ngập trong chiến tranh với hàng loạt các kẻ thù: Ba Tư, Ả Rập, Bungari, Avars, Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk và cuối cùng là Thổ Nhĩ Kỳ Ottaman. Thậm chí quân Thập Tự Chinh cũng trở thành kẻ thù của đế chế này. Vào cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư, quân Thập Tự Chinh không thể chi trả khoản tiền mà người Venice đòi để vận chuyển họ đến Vùng Đất Thánh. Sau khi thương thuyết, quân Thập Tự Chinh đồng ý sẽ chiếm thành Zara cho người Venice. Nhưng sau khi chiếm được Zara, họ vẫn thiếu tiền thanh toán cho chuyến đi tới Jerusalem. Bị người Venice thúc ép trả nợ, quân Thập Tự Chinh phải chấp nhận yêu sách của một người muốn chiếm ngôi Hoàng Đế La Mã để đổi lấy lượng tiền mặt cần thiết nếu quân Thập Tự chinh giúp ông ta chiếm Constantinople. Quân Thập Tự Chinh bắt buộc tuân theo, nhưng khi người ấy nuốt lời hứa trong cuộc thỏa thuận năm 1204 thì quân Thập Tư Chinh chiếm luôn Constantinople, cướp bóc thành phố, phá hủy các tác phẩm viết tay và các công trình văn hóa nghệ thuật vô giá khác rồi lập ra Đế Chế Thập Tự Chinh. Vào năm 1261, một vị hoàng đế La Mã đã chiếm lại được Constantinople nhưng thời kỳ hoàng kim của đế chế này không còn nữa. Đế Chế La Mã bị thu hẹp chỉ nhỉnh hơn một bang của Balkan. Đời sống nghệ thuật và văn hóa của thành phố được hồi sinh, nhưng nguy cơ bị Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược vẫn còn đó. Cuối cùng, vào năm 1453, người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã chiếm được Constantinople và hủy diệt hoàn toàn đế chế này.




Công nghệ sản xuất vải


Những người La Mã đã biết dệt ra những tấm vải đẹp. Từ thế kỷ thứ 4 cho đến thứ 6, vải linen và len đã là những loại chất liệu vô cùng thông dụng. Việc sản xuất ra các loại tơ lụa vẫn còn là bí mật được người Trung Quốc nắm giữ đầu tiên, sau đó tới người Hàn Quốc và Nhật Bản. Dần dần kiến thức sản xuất tơ lụa bắt đầu lan tràn sang phương tây. Các lái buôn đã mang tơ lụa và có thể là cả tơ thô tới Hy Lạp và Rome trước thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, nhưng việc sản xuất lụa vẫn còn vô cùng hạn chế. Những nhà sử học La Mã cho rằng vào thế kỷ thứ 6 có hai nhà sư đã mang bí quyết của nghề nuôi tằm đến cho hoàng đế La Mã. Họ không chỉ học được cách làm cho tằm đẻ trứng, phát triển, cách cho tằm ăn, mà còn lén mang theo rất nhiều trứng tằm từ Trung Quốc sang trong một cái ống tre rỗng.


Từ thời điểm này cho tới thế kỷ thứ 9 khi người Hy Lạp ở Sicily cũng bắt đầu sản xuất tơ lụa, người La Mã độc quyền sản xuất tơ lụa cung cấp cho toàn bộ phía Tây của thế giới. Hoàng đế La Mã đã rất biết tận dụng lợi thế độc quyền này của mình bằng cách lấy một mức giá thật cao, vì vậy chỉ những người giàu nhất mới có khả năng mua được loại vải này. Gấm dệt tại La Mã đặc biệt được thèm khát. Những thiết kế dùng làm hoa văn của loại gấm này thường là các hoa văn Ba Tư nguyên bản. Những đề tài trong Thiên Chúa Giáo cũng được mô tả trên những tấm vải gấm có hoa văn phức tạp. Khi được may thành quần áo hoặc thành màn treo tường, những loại vải cao cấp này có thể được trang hoàng với những viên đá quý hoặc bán quý, những mảnh sứ nhỏ hình trái tim, họa tiết thêu, và/hoặc những miếng đính.


Chế độ Quân Chủ Phong Kiến.


Chế độ phong kiến phát triển do nhu cầu cần được bảo vệ khi đế chế Carolingian sụp đổ dưới sự tấn công của người Vikings, Magyars và Saracens. Chính phủ trung ương biến mất; pháp luật và trật tự không còn. Sự an toàn chỉ còn tìm thấy trong quân đội. Rất giống như những vị thủ lĩnh trong các bộ lạc của Đức đã tập hợp những chiến binh của mình trong các đội chiến quân, những người lãnh đạo tập trung xung quanh họ những người huấn luyện chiến binh. Rồi một sáng kiến mới, bàn đạp ngựa, đã cách mạng hóa cuộc chiến bằng cách kết hợp giữa sức mạnh con người và động vật để tạo ra những chiến binh trên lưng ngựa với gươm và thương. Những chiến binh này trở thành những chiến binh thép trên lưng ngựa. Những hiệp sĩ, là những chiến binh thuần thục, cần hàng năm trời tập luyện để điều khiển ngựa và vũ khí. Thời gian luyện tập này bắt đầu khi họ còn rất trẻ và không rẻ chút nào. Những hiệp sĩ cần không những một mà là nhiều con ngựa, được nuôi và huấn luyện đặc biệt để phục vụ cho chiến tranh. Hơn nữa, phải có người trông nom ngựa cho các hiệp sĩ này. Vì vậy, hiệp sĩ trở thành những chiến binh cao quý và chuyên nghiệp.


Các hiệp sĩ cũng là tùy tùng của một vị lãnh chúa. Từ “vassal” xuất phát từ tiếng Celtic có nghĩa là “người phục vụ”. Những người nô bộc này giống như những chiến binh trong trận chiến của quân đội Đức, những người thề trung thành với chỉ huy của mình. Để làm cho cấp dưới trung thành với mình, vị lãnh chúa sẽ ban cho họ đất đai, được gọi là thái ấp, để trả công cho những gì mà họ cống hiến cho quân đội. Các hiệp sĩ sẽ sống tại thái ấp của mình khi không còn tham gia chiến đấu. Cùng với thái ấp là những người nông nô, những người làm ruộng cho lãnh chúa và các hiệp sĩ. Nông nô có rất nhiều năm sống tự do trước khi tổ tiên của họ dâng sự tự do của bản thân và gia đình mình cho vị lãnh chúa để đổi lấy sự bảo vệ.


Theo lý thuyết, hoàng đế phong kiến là một vị lãnh chúa tối cao và là người chủ thực sự của tất cả đất đai trong lãnh thổ của mình. Những người cận thần của ông rất trung thành, nhưng nếu ông bị một người cấp dưới độc lập và hùng mạnh thách đấu, vị vua này chỉ có thể gọi những người cận thần khác của ông tập hợp binh lính của họ lại để giúp đưa vị quý tộc nổi loạn vào kỷ cương trở lại. Nếu những người cận thần này không trung thành, vị lãnh chúa không có quân đội quốc gia để huy động. Trong cấp độ địa phương, vị lãnh chúa và cận thần của mình có quyền thi hành bất kỳ luật lệ hiện hành nào.

Lãnh chúa phong kiến không chỉ chống lại những kẻ xâm lược hiếu chiến, mà còn gây chiến với những quý tộc phong kiến khác. Tuy nhiên, chiến tranh ngày đó, không phải nguy hiểm như chiến tranh bây giờ. Những hiệp sĩ mặc áo giáp sắt thường bị bắt và đòi tiền chuộc nhiều hơn là bị giết. Chỉ những người nông nô và những tá điền là bị thiệt hại nhiều hơn cả bởi vì cuộc sống, gia đình và mùa màng của họ đều bị hủy hoại trong trận chiến.


Những vị lãnh chúa và hiệp sĩ phong kiến xây lâu đài trên đất đai của mình như là một nơi an toàn để bảo vệ họ. Đầu tiên, những tòa lâu đài này được cấu trúc bằng gỗ chỉ nhằm để phòng thủ, nhưng từ thế kỷ thứ 12 chúng được xây dựng rất công phu. Lâu đài không chỉ là thành lũy phòng thủ mà còn là nhà cho vị lãnh chúa và gia đình ông ta. Chúng thường không tiện nghi, lạnh lẽo, ẩm ướt, tăm tối và rất nhiều gió bởi vì các cửa sổ ở những bức tường bên ngoài không có gì ngoài những chấn song không kính.


Chế độ phong kiến Châu Âu có rất nhiều dạng bởi vì nó được phát triển từ thực tế và tập tục của từng vùng. Khởi nguồn tại phía Bắc nước Pháp, nó lan rộng đến phía Nam, đến Đức và phía bắc nước Ý. Nước Anh không có chế độ phong kiến nguyên gốc cho tới khi công tước William của Normandy xâm lược nước Anh vào năm 1066 và trở thành vua nước Anh.


Người Anglo-Saxon và người Norman Britain


Sau khi các quân đoàn La Mã rút quân về từ đông bắc nước Đức, người Angles, Saxon và Jutes xâm lược nước Anh vào thể kỷ thứ 5, dẫn dắt những người Britons chính thống, người Celts, tây tiến sang xứ Wales, Devon, Cornwall và phía bắc Scotland. Người Anglo-Saxon an cư lạc nghiệp, kết hôn trong họ tộc và chuyển sang Cơ Đốc Giáo, và thành lập ra 7 vương quốc Anglo-Saxon. Vào thể kỷ thứ 9, người Anglo-Saxon bị người Danes (Vikings) xâm lược, chúng đến cướp bóc và giành lãnh thổ. Vua Anglo-Saxon, Alfred the Great (871-899), đã thu phục người Danes, và sáp nhập họ với triều đại của mình dưới trướng một vì vua. Khi dòng dõi của Vua Alfred qua đời năm 1066, William the Conqueror, Bá tước xứ Normandy, giành lại ngai vàng. Ông lấn chiếm nước Anh và tiêu diệt những người Anglo-Saxon chống đối muốn giành ngai vàng trong trận chiến Hastings. William I thiết lập một hệ thống nhà nước phong kiến được tổ chức và tập trung quyền lực tốt hơn Châu Âu rất nhiều. Dưới triều đại Henry II (1154-1189), một trong những vì vua vĩ đại nhất nước Anh, người có mẹ là cháu ngoại của William I và có cha thuộc gia đình Plantagenet, nước Anh đòi Pháp đòi được bồi thường những vùng đất rộng lớn từ Pháp. Những yêu sách này dựa trên một sự thật rằng William the Conqueror đã từng cai trị Normandy và Henry II đã kết hôn cùng Eleanor của xứ Aquitaine, người thừa kế một vùng đất rộng phía Vùng Tây Bắc nước Pháp. Rất nhiều năm sau đó, Pháp và Anh đánh nhau vì yêu sách này. Đỉnh điểm là Cuộc Chiến Trăm Năm (1337 – 1453), kết thúc bằng việc người Anh bị trục xuất ra khỏi nước Pháp trừ một vị trí ở Calais. Gia đình Plantagenet thống trị nước Anh cho đến năm 1399.


Thời trang nam giới thế ký X-XI


Trang phục lót bao gồm áo sơ mi mặc trong và quần đùi. Loại trang phục mà cuối cùng tiến hóa thành những chiếc áo sơ mi nam hiện đại ngày nay bắt nguồn từ trang phục lót. Mặc ngay trên da, loại trang phục này hầu như không được nhìn thấy hoặc chỉ nhìn thấy một phần. Chỉ sau thế kỷ 19, áo sơ mi mới không bị coi là trang phục lót nữa.


Những chiếc áo sơ mi mặc lót, đôi khi còn được gọi là chemises, là loại áo ngắn tay bằng vải linen. Quần đùi, hay còn gọi là braies, là những chiếc quần ống túm ở đầu gối nhưng được may rộng, thắt nịt ở eo. Chiều dài có thể thay đổi, dài từ đầu gối cho tới mắt cá chân, phủ gần hết vớ chân.


Đàn ông thường mặc hai chiếc áo tunic (áo ống dài thắt ngang lưng), cái này khoác lên cái kia, một cái ở ngoài và một cái ở trong. Thường thì cả hai chiếc áo có độ dài bằng nhau mặc dù đôi lúc chiếc áo bên trong thường hơi dài hơn một tý để lộ phần lai áo ra bên ngoài. Nếu như chiếc áo bên ngoài có chiều dài ngắn hơn, nó thường có tay áo ôm vừa vặn. Đôi khi, ống tay áo thường dài qua tay một chút và được xắn lên qua khỏi cổ tay. Nếu áo bên ngoài có chiều dài dài hơn, chúng cũng có tay áo ôm vừa vặn, hoặc (thường thấy hơn) là có tay áo rộng để lộ tay áo của chiếc áo tunic bên trong.


Áo tunic thường có cổ tròn hoặc cổ vuông. Loại trang phục này thường được thắt dây nịt ở eo. Chúng được may bằng chất liệu linen và len. Những người nghèo hầu như chỉ mặc len. Lụa được nhập khẩu bởi những người vô cùng giàu có. Sự phân chia giai cấp thể hiện ở độ dài và cách trang trí áo tunic. Áo tunic bên ngoài của những người giàu có thường được trang trí bởi những dải lụa thêu ở cổ, tay áo và các đường lai. Giới quý tộc và tăng lữ thường mặc những chiếc áo thụng dài có độ rũ vào những dịp nghi lễ trang trọng. Còn những người thợ săn và binh lính ở mọi tầng lớp thường chỉ mặc những chiếc áo tunic ngắn tiện dụng.


Áo choàng không tay (mantle) cho đàn ông có thể mặc mở hoặc kín. Những chiếc áo choàng mở được may bằng một mảnh vải có cài ở một bên vai, hoặc áo choàng kín là một mảnh vải dài với một đường rạch để có thể chui đầu qua. Áo choàng trong thế kỷ 10 thường có hình vuông, những chiếc áo choàng bán nguyệt bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 11. Những người đàn ông giữ vị trí chính trị quan trọng hoặc có thế lực trong tôn giáo thường mặc áo choàng quấn quanh người như áo choàng của người Hy Lạp trong những dịp lễ.




Những thanh niên trẻ thường cạo râu nhẵn nhụi, còn người trung niên thì để râu quai nón. Tóc được chẻ ngôi giữa, để rơi tự nhiên xuống hai bên mặt, dài tới gáy hoặc hơn dù là tóc thẳng hay dợn sóng.


Ngoại trừ những chiếc mũ bảo vệ đội trong chiến tranh, mũ trùm đầu (hood) và mũ có dây buộc dưới cằm (bonnet) theo kiểu Phrygian là những loại mũ thông dụng nhất. Mũ với vành mũ tròn nhỏ và chóp nhọn xuất hiện trong cộng đồng những người Do Thái vào thế kỷ 11 trong các tác phẩm hội họa. Những loại mũ này, cũng như râu quai nón có vẻ như là một phần của trang phục truyền thống được người Do Thái mặc một cách tự nguyện. Những loại mũ này có thể xuất phát từ những chiếc mũ hình nón được những người không theo đạo Hồi mặc tại các quốc gia Hồi Giáo và được đưa vào Châu Âu qua con đường Tây Ban Nha hoặc Đế Chế La Mã.


Để che đôi chân, đàn ông thường mặc những chiếc quần không đáy dài tới mắt cá chân hoặc đi bít tất dài. Bít tất dài được làm bằng chất liệu dệt, cắt và may vừa vặn với ống chân, cao tới đầu gối hoặc tới bẹn. Bao chân (còn gọi là ghệt) được làm bằng len tháo rời và quấn chặt xung quanh ống chân tới đầu gối và được mặc cùng với bít tất dài hoặc mặc không. Vớ thường ngắn hơn bít tất dài, thường có màu sáng. Vài loại vớ được trang trí ở đầu ngón chân có thể được mang trùm lên lai quần, mang chồng lên bít tất dài hoặc mang với băng chân.


Giày ống có thể là ngắn tới mắt cá chân hoặc cao hơn, tới nửa bắp chân và thường được trang trí. Giày đế bằng dành cho tuổi trung niên thường không có đế cao. Những đôi giày thường có mũi nhọn. Các đôi giày thường ôm sát và cao tới mắt cá chân, với những sợi dây bằng da hay bằng vải để thắt khi cần thiết.


Thời trang nữ thế kỷ X-XI


Thời trang của đàn ông và phụ nữ có một vài chỗ khác nhau trong suốt thế kỷ 10 và 11. Phụ nữ mặc những bộ trang phục linen thoải mái và rất gần với làn da, được gọi là “chemise” tại Pháp, tuy được cắt dài hơn nhưng những chiếc áo này cũng rất giống với chiếc áo sơ mi lót của đàn ông.


Bên ngoài chiếc áo này, phụ nữ mặc áo tunic dài chạm sàn với tay áo ôm sát và có viền thêu ở cổ, đường lai và tay áo. Ngoài cùng, họ mặc những chiếc áo tunic dài chạm sàn có tay rộng để lộ tay áo tunic bên trong. Chiếc áo tunic ngoài cùng thường được kéo lên và thắt lùng phùng ở eo. Một vài chiếc áo tunic mặc trong được trang trí đường viền tại cổ tay và đường lai.


Khi đi ra ngoài, phụ nữ thường mặc cả áo choàng kín và mở. Một số chiếc áo choàng còn được may theo kiểu áo kép được lót bằng màu sắc tương phản nhau. Áo choàng mùa đông có thể được lót bằng lông thú.


Những cô gái trẻ thường thả tóc suông và không che gì cả. Những phụ nữ đã có chồng và những người phụ nữ lớn tuổi thường che tóc bằng những tấm mạng, kéo xung quanh khuôn mặt phía dưới cằm; hoặc có thể để mở, thả hờ hai bên mặt và thả dài tới giữa ngực. Những người giàu sẽ đeo mạng bằng lụa hoặc linen; những người ở tầng lớp thấp hơn dùng những loại linen rẻ tiền hơn hoặc dùng len.


Phụ nữ mang bít tất ôm sát dài tới đầu gối. Giày phụ nữ cũng tương tự như đàn ông. Phụ nữ cũng mang những đôi dép hở với những dải băng quấn quanh mắt cá, tương tự như những đôi giày của các thầy tu. Clogs là những khối gỗ cao giúp cho đôi giày tránh được nước, bùn đất và tuyết, nhất là đối với những đôi giày da.

Có rất ít trang sức được tìm thấy trong những bức họa và điêu khắc của thời kỳ này, những tài liệu ghi lại chỉ ra rằng những người phụ nữ giàu có đeo băng đô bằng vàng và vòng cổ hoặc ngọc trai, vòng đeo tay, nhẫn và hoa tai. Những chiếc dây nịt cẩn trang sức (thường được gọi là girdles) cũng thỉnh thoảng thấy xuất hiện trong hội họa.
Valentine Vu Anh Ho Nguyen
Fashion Lecturer
Raffles International College, HCMC​
 
Top